fbpx

Khi TBKTSG Online đặt câu hỏi về việc Cục trồng trọt có thống kê diện tích sản xuất lúa ở ĐBSCL đạt từ tiêu chuẩn GAP/VietGAP trở lên là bao nhiêu hay không, Phó Cục trưởng Cục trồng trọt thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lê Thanh Tùng xác nhận, đơn vị này hiện không có số liệu.

Nông dân đang thu hoạch lúa. Ảnh: Trung Chánh

Từ những tranh luận xung quanh câu chuyện “90% người tiêu dùng Việt Nam đang ăn gạo bẩn” được một doanh nghiệp phát biểu mới đây, câu hỏi được đặt ra là, ở Việt Nam nói chung và Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng, có bao nhiêu diện tích sản xuất lúa đạt tiêu chuẩn VietGAP? Tiêu chuẩn “thực hành sản xuất nông nghiệp tốt theo tiêu chuẩn của Việt Nam” này được xác định là chuẩn mực của một sản phẩm an toàn hiện nay.

Do Cục trồng trọt thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chưa nắm được số liệu diện tích lúa đạt tiêu chuẩn từ GAP (thực hành sản xuất nông nghiệp tốt)  trở lên nên sản lượng lúa, gạo đạt chuẩn GAP cũng khó thống kê được đầy đủ.

Ông Phạm Thái Bình, Tổng giám đốc Công ty cổ phần nông nghiệp công nghệ cao Trung An tại một tọa đàm trực tuyến diễn ra mới đây cho rằng, 90% dân số Việt Nam đang ăn gạo “bẩn”. Ông Bình lý giải: Khái niệm “sạch” mà ông nói là gạo phải đạt tiêu chuẩn từ GAP trở lên, còn không đạt thì xem là gạo “bẩn”.

Theo ông Bình, tổng diện tích đất sản xuất lúa hàng năm của Việt Nam là 4,5 triệu héc ta. “Như vậy, nhận định 90% người tiêu dùng Việt Nam ăn gạo “bẩn” hay nói cách khác chỉ 10% người tiêu dùng ăn gạo sạch, có nghĩa ở Việt Nam hiện nay chỉ có 450.000 héc ta (tức 10% diện tích đất canh tác lúa của Việt Nam – PV) sản xuất đạt tiêu chuẩn từ GAP trở lên”.

Theo vị doanh nhân này, với cách sản xuất lúa truyền thống, lạm dụng phân thuốc hóa học như thực tế diễn ra hiện nay trên đồng ruộng, thì hầu như tất cả đều còn tồn dư dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong sản phẩm, “có điều tồn dư ít hay nhiều trong sản phẩm thôi”, ông nói.

Trước lập luận nêu trên, có không ít ý kiến tranh luận khi cho rằng, sản phẩm “không” đạt tiêu chuẩn GAP “không” đồng nghĩa đó là sản phẩm “bẩn”, tức vẫn có thể an toàn.

Chính vì vậy, có ý kiến cho biết, việc lập luận sản phẩm “không” đạt tiêu chuẩn GAP mặc định là sản phẩm “bẩn” là một đánh giá, nhận xét hồ đồ mang tính chủ quan, gây hại đến cả ngành hàng lúa gạo Việt Nam.

Vậy câu hỏi được đặt ra, đó là căn cứ vào đâu khi cho rằng sản phẩm “không” đạt tiêu chuẩn GAP vẫn là “sản phẩm sạch, an toàn”?

Trả lời trên báo Tuổi Trẻ, ông  Nguyễn Quý Dương, Phó cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đưa ra lập luận, các tỉnh phía Nam thường có giai đoạn cuối cần phải phun thuốc bảo vệ thực vật trên lúa để trừ bệnh đạo ôn cổ bông và lem lép hạt. Loạt phun cuối thường được phun kép, muộn nhất cũng trước thu hoạch 20 – 25 ngày.

Trong khi đó, các loại thuốc phòng trừ các bệnh trên có thời gian cách ly dài nhất cũng thường chỉ 7 ngày. Vì vậy, kể cả trong trường hợp nông dân phải phun thuốc bảo vệ thực vật muộn, nguy cơ rủi ro có tồn dư thuốc trên gạo vượt mức dư lượng tối đa cho phép là vô cùng thấp.

Còn với các tỉnh phía Bắc và Trung bộ, các đợt phải phun thuốc bảo vệ thực vật muộn rất ít xảy ra, thường muộn nhất để trừ rầy lứa 6, 7. Lúc này, lúa chỉ mới chắc xanh đến đỏ đuôi, tức cách thời gian thu hoạch khoảng 15 – 20 ngày nên nguy cơ tồn dư thuốc bảo vệ thực vật đáng kể trên gạo cũng vô cùng thấp.

Căn cứ vào thời gian cách ly để cho rằng nguy cơ tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trên sản phẩm gạo thấp nhằm kết luận gạo “vẫn an toàn” liệu có hoàn toàn chuẩn xác?

Rõ ràng, trong câu chuyện phân định sản phẩm gạo “an toàn” hay “bẩn” với tỷ lệ ra sao để có khuyến cáo cho người tiêu dùng, nhất thiết cần phải có nghiên cứu, phân tích và đánh giá một cách khoa học, có luận chứng, luận cứ, chứ không thể kết luận chỉ dựa vào thời gian cách ly hay sản phẩm đạt hay không đạt GAP được.

Tiêu chuẩn VietGAP trên lúa có gì?


Năm 2010, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lúc bây giờ là ông Bùi Bá Bổng đã ký quyết định ban hành quy trình sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) trên lúa.


Theo đó, mục tiêu của quyết định nêu trên nhằm ngăn ngừa và hạn chế rủi ro từ các mối nguy gây ô nhiễm về hóa học, sinh học và vật lý ảnh hưởng đến chất lượng, an toàn của sản phẩm lúa gạo, môi trường, sức khỏe, an toàn lao động và phúc lợi xã hội của người lao động trong sản xuất lúa thương phẩm; tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thực hiện sản xuất và được chứng nhận sản phẩm lúa gạo an toàn; đảm bảo tính minh bạch, truy nguyên được nguồn gốc của sản phẩm và nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất lúa tại Việt Nam.


Nội dung quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt tập trung vào 11 nhóm vấn đề, bao gồm: 1. đánh giá và lựa chọn vùng sản xuất; 2. quản lý đất; 3. giống lúa; 4. phân bón (bao gồm chất bón bổ sung) ; 5. nước tưới; 6. hoá chất (bao gồm thuốc bảo vệ thực vật); 7. thu hoạch và xử lý sau thu hoạch; 8. người lao động; 9. ghi chép, lưu trữ hồ sơ, truy nguyên nguồn gốc và thu hồi sản phẩm; 10. kiểm tra nội bộ và 11. khiếu nại và giải quyết khiếu nại.


Theo đó, từng nhóm vấn đề có những quy định rất chi tiết để các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia sản xuất, kinh doanh, kiểm tra và chứng nhận sản phẩm lúa gạo tại Việt Nam áp dụng.


Chẳng hạn, đối với nhóm vấn đề “ghi chép, lưu trữ hồ sơ, truy nguyên nguồn gốc và thu hồi sản phẩm”, thì quyết định này quy định:


1. Tổ chức và cá nhân sản xuất lúa theo VietGAP phải ghi chép nhật ký sản xuất và lưu hồ sơ về vùng sản xuất, đất, giống, phân bón, nước tưới, thuốc bảo vệ thực vật, vị trí và mã số của lô sản phẩm, tiêu thụ sản phẩm và các thông tin khác theo quy định của VietGAP.


2. Hồ sơ phải được thiết lập cho từng khâu của thực hành VietGAP thuận tiện cho kiểm tra, đánh giá.


3. Hồ sơ phải được lưu ít nhất hai năm hoặc lâu hơn nếu có yêu cầu của khách hàng hoặc cơ quan quản lý tại hộ nông dân hoặc nhóm, tổ, hợp tác xã, đơn vị sản xuất.


4. Lúa thương phẩm sản xuất theo VietGAP phải được ghi rõ vị trí sản xuất và mã số theo từng lô sản phẩm. Vị trí và mã số của lô sản phẩm phải được lập hồ sơ và lưu.


5. Tổ chức và cá nhân sản xuất lúa theo VietGAP phải tự kiểm tra hoặc thuê kiểm tra viên kiểm tra nội bộ xem việc ghi chép và lưu hồ sơ đã đạt yêu cầu chưa. Nếu chưa đạt yêu cầu thì phải có biện pháp khắc phục và phải được lưu trong hồ sơ.


6. Bao bì chứa sản phẩm khi xuất hàng phải có nhãn mác để giúp việc truy nguyên nguồn gốc được dễ dàng.


7. Khi xuất hàng, phải ghi chép rõ thời gian xuất, khối lượng, địa chỉ nơi xuất, nơi nhận và lưu giữ hồ sơ cho từng lô sản phẩm.


8. Khi phát hiện sản phẩm bị ô nhiễm hoặc có nguy cơ ô nhiễm, phải cách ly lô sản phẩm đó và ngừng phân phối. Nếu đã phân phối, phải thông báo ngay tới người tiêu thụ. Xác định nguyên nhân ô nhiễm và thực hiện các biện pháp ngăn ngừa tái nhiễm; ghi chép lại nguy cơ, giải pháp xử lý và lưu hồ sơ.

Trung Chánh (thesaigontimes)

Link bài viết gốc: https://www.thesaigontimes.vn/td/307935/viet-nam-co-bao-nhieu-dien-tich-lua-dat-tieu-chuan-gapvietgap.html

Nguồn bài viết