fbpx


Hiện tượng “chảy máu chất xám” ở các đơn vị nghiên cứu đang diễn ra và ngày càng có xu hướng gia tăng. Trong khi đó, trình độ KH-CN có nguy cơ tụt hậu.

Ngày 22/3, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường đã làm việc với Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam về công tác nghiên cứu khoa học công nghệ giai đoạn 2016-2020, định hướng phát triển giai đoạn 2021-2025.

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường đánh giá cao những đóng góp vô cùng lớn của VAAS cho đất nước, ngành nông nghiệp trong nhiều thời kỳ lịch sử. Ảnh: Lê Bền.

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường đánh giá cao những đóng góp vô cùng lớn của VAAS cho đất nước, ngành nông nghiệp trong nhiều thời kỳ lịch sử. Ảnh: Lê Bền.

Theo GS.TS Nguyễn Hồng Sơn, Giám đốc Viện KHNN Việt Nam (VAAS), giai đoạn 2016-2020, công tác sản xuất giống cây trồng là lĩnh vực nghiên cứu đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần quan trọng vào thành tựu chung của toàn ngành.

Sản xuất lúa gạo, diện tích gieo trồng giống của VAAS hiện chiếm gần 60% diện tích lúa cả nước, 77% diện tích lúa ĐBSCL.

Đến nay, VAAS đã có 5/10 giống lúa có diện tích trồng lớn nhất Việt Nam, 8/10 giống lúa có diện tích trồng lớn nhất ĐBSCL. Năng suất giống lúa mới tăng 10%, nhờ đó tăng sản lượng lúa khoảng 2,4 triệu tấn/năm, mang lại giá trị kinh tế gia tăng khoảng 15.795 tỷ đồng/năm.

Về sản xuất cà phê, diện tích trồng mới và ghép cải tạo sử dụng giống của Viện Khoa học Nông lâm nghiệp (KHNLN) Tây Nguyên (đạt 120.000 ha, tương đương 21% diện tích cà phê của cả nước. Trong đó, 10 giống cà phê vối của Viện được công nhận đưa vào sản xuất có tỉ lệ hạt R1 70-90%, gấp 2 lần các giống cũ.

Quy trình, kỹ thuật và các tiến bộ kỹ thuật của Viện (tái canh cà phê, thâm canh cà phê và tưới nước tiết kiệm) được áp dụng trên diện tích 320.000 ha. Tổng giá trị kinh tế gia tăng từ giống và các tiến bộ kỹ thuật ước đạt khoảng5.200 tỉ đồng/năm.

Đối với sản xuất điều, 7 giống điều của Viện KHNN Việt Nam đã được phát triển, giới thiệu đưa vào sản xuất (PN1, AB05-08, MH5/4, ES04, AB29, ĐDH67-15, ĐDH 102-293). Diện tích điều ghép với các giống của Viện đạt 120.000 ha, tương đương 41% diện tích điều của cả nước. Với năng suất tăng 0,5tấn/ha, tương đương sản lượng tăng 60.000 tấn điều thô/năm đã mang lại giá trị kinh tế gia tăng > 4.700 tỉ đồng/năm.

Về sản xuất chè, đã có 10 giống chè của Viện đã được công nhận giống quốc gia, được gieo trồng trên diện tích 74.000 ha, chiếm 57% tổng diện tích chè toàn quốc, trong đó riêng 4 giống (LDP1, LDP2, PH8, Kim Tuyên) có diện tích là 65.000 ha. Giá trị kinh tế gia tăng nhờ giống và tiến bộ kỹ thuật của Viện đạt khoảng 1.800 tỉ đồng/năm.

Với sản xuất cây ăn quả, 2 giống thanh long LĐ1 và LĐ5 do Viện phát triển đang được trồng trên diện tích 20.000 ha, chiếm 45,2% diện tích thanh long trên cả nước, có năng suất trung bình 40-50 tấn/ha, (tăng 74,5% so với giống cũ) đã làm lợi cho sản xuất khoảng 13.000 tỷ đồng/năm.

Giống xoài mới của Viện phát triển từ giống xoài Cát Hòa Lộc đang được trồng trên diện tích 17.000 ha, chiếm 20% diện tích xoài của cả nước, có năng suất trung bình đạt 10 tấn/ha, giá bán khoảng 35,0 triệu đồng/tấn đã làm lợi cho sản xuất khoảng 2.890 tỷ đồng/năm.

Giống bưởi da xanh của Viện đang được trồng trên diện tích 36.000 ha, chiếm 60% tổng diện tích trồng cả nước. Với năng suất trung bình đạt 25 tấn/ha đã làm lợi cho sản xuất khoảng 9.900 tỷ đồng/năm.

Nhiều giống rau quả chất lượng cao đã được VAAS đưa ra sản xuất, góp phần quan trọng vào tái cơ cấu ngành nông nghiệp những năm qua. Ảnh: Lê Bền

Nhiều giống rau quả chất lượng cao đã được VAAS đưa ra sản xuất, góp phần quan trọng vào tái cơ cấu ngành nông nghiệp những năm qua. Ảnh: Lê Bền

Các giống nhãn chín sớm chín muộn ở phía Bắc được trồng trên diện tích 24.000 ha, chiếm 44,5% diện tích nhãn miền Bắc có năng suất 16-17 tấn/ha (cao hơn 38% so với giống đại trà) đã làm lợi cho sản xuất 900 tỷ đồng/năm. Giống nhãn Xuồng Cơm Vàng đang được trồng trên diện tích 14.660 ha, chiếm 33,8% diện tích nhãn miền Nam và làm lợi cho sản xuất khoảng 2.219tỉ đồng/năm.

Bên cạnh đó, Viện KHNN Việt Nam cũng đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong giai đoạn 5 năm 2016-2020 về công tác ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ cao, tiến bộ kỹ thuật trong công tác vệ thực vật, đất và dinh dưỡng cây trồng; dịch vụ khoa học công nghệ…

Nguy cơ tụt hậu về khoa học công nghệ

Hiện nay, VAAS đã xây dựng Chiến lược khoa học công nghệ giai đoạn 2021-2030 và gửi Bộ NN-PTNT. Theo đó, GS.TS Nguyễn Hồng Sơn, Giám đốc Viện KHNN Việt Nam cũng thẳng thắn đánh giá, công tác nghiên cứu KH-CN của VAAS trong giai đoạn tới sẽ phải vượt qua nhiều khó khăn, thách thức trong giai đoạn 2016-2020.

Làm việc với Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường, lãnh đạo nhiều Viện thành viên của VAAS đã thẳng thắn nhìn nhận những năm qua, trước những yêu cầu về sản phẩm khoa học ứng dụng, đáp ứng các yêu cầu về sản xuất theo năng suất, sản lượng, công tác nghiên cứu cơ bản chưa được quan tâm đúng mức. Đầu tư cho cơ sở vật chất, thiết bị còn rất hạn chế…

Trình độ KH-CN có nguy cơ tụt hậu. So với các nước trên thế giới và khu vực, năng lực và trình độ nghiên cứu (nhất là nghiên cứu cơ bản) của đội ngũ cán bộ nghiên cứu chưa cao, khả năng độc lập nghiên cứu còn yếu.

Trong hệ thống VAAS, nguồn nhân lực có trình độ đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao trong nghiên cứu và phát triển KH-CN còn ít. Số lượng cán bộ có khả năng độc lập nghiên cứu độc chưa nhiều. Hoạt động sản xuất dịch vụ KH-KT chưa mạnh nên chưa tạo thêm nguồn kinh phí cho việc tự chủ.

Hai là tình trạng thiếu hụt các nhà khoa học trình độ cao. Hiện số lượng cán bộ nghiên cứu của VAAS chiếm tỷ lệ tương đối cao so với các tổ chức khoa học công nghệ công lập khác nhưng chưa thực sự mạnh về chuyên môn và giỏi về kĩ năng.

Do quá trình hội nhập và mở cửa thị trường KH-CN diễn ra mạnh mẽ, trong khi chế độ lương và đãi ngộ đối với các nhà khoa học chưa hợp lý, nên khá nhiều chuyên gia giỏi, cán bộ nghiên cứu có năng lực trong các đơn vị đã tìm kiếm cơ hội làm việc tại các doanh nghiệp, tổ chức trong và ngoài nước.

Hiện tượng “chảy máu chất xám” ở các đơn vị nghiên cứu đang diễn ra và ngày càng có xu hướng gia tăng. Trong khi đó, ngày càng thiếu những nhà khoa học xuất sắc, tạo được tiếng vang lớn.

Trong bối cảnh đó, cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập là cơ hội phát triển, song đồng thời cũng là thách thức lớn, nhất là trong việc xây dựng cơ chế hoạt động, hợp tác sản xuất kinh doanh và dịch vụ KH-CN trong nông nghiệp.

Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Quốc Doanh thẳng thắn thừa nhận, Viện KHNN Việt Nam không chỉ có công tác nghiên cứu, mà còn có vai trò lớn trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phối hợp triển khai công tác chỉ đạo, điều hành sản xuất cho Bộ NN-PTNT. Tuy nhiên, đội ngũ các nhà khoa học chất lượng cao ngày càng teo tóp, mà nguyên nhân lớn do nguồn lực đầu tư ngày càng hạn chế.

Trong khi đó, việc bảo vệ bản quyền giống, bản quyền nghiên cứu sáng chế của lĩnh vực rất khó khăn và khó đưa ra sản phẩm thương mại…

Chủ động đổi mới, chuyển hướng nghiên cứu 

Theo Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Nguyễn Xuân Cường, Viện KHNN Việt Nam trải qua nhiêu thời kỳ, có quyền tự hào vì đã đóng góp vô cùng quan trọng cho đất nước, nhất là những tiến bộ về giống, quy trình kỹ thuật cây trồng, đưa đất nước ta từ đói ăn trở thành một nước xuất khẩu lương thực, thực phẩm lớn trên thế giới…

Trình độ KH-CN trong nghiên cứu khoa học nông nghiệp của nước ta đang đứng trước nguy cơ tụt hậu do sự thiếu đầu tư về nguồn lực. Ảnh: TL.

Trình độ KH-CN trong nghiên cứu khoa học nông nghiệp của nước ta đang đứng trước nguy cơ tụt hậu do sự thiếu đầu tư về nguồn lực. Ảnh: TL.

Mặc dù vậy, công tác nghiên cứu khoa học của Viện đang đối mặt với nhiều khó khăn thách thức do nguồn lực chung của đất nước còn hạn chế. Trong hoàn cảnh đó, tất cả 18 đơn vị viện nghiên cứu của VAAS đã liên tục xoay chuyển, sáng tạo để tồn tại, phát triển.

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho rằng tiềm năng phát triển của ngành nông nghiệp nước ta giai đoạn tới vẫn còn rất lớn, đặc biệt là lĩnh vực trồng trọt.

Vì vậy, Bộ trưởng đề nghị VAAS cần tiếp tục chủ động đổi mới, chuyển hướng nghiên cứu. Ví dụ cây ngô, cần tập trung vào nghiên cứu ngô sinh khối, giống cỏ, cây thức ăn chăn nuôi để phục vụ cho chăn nuôi thay vì ngô lấy hạt như trước đây; nghiên cứu rau quả có thể chuyển hướng sang hoa, rau chất lượng cao; nghiên cứu sản xuất giống rau chất lượng cao, có lai tạo để thay thế nhập khẩu… Bởi rau, quả, hoa sẽ là lợi thế đắc địa của nước ta.

Trong tương lai, công tác nghiên cứu phải chuyển từ phục vụ mục tiêu an ninh lương thực sang an ninh dinh dưỡng.

Bên cạnh đó, cần nghiên cứu theo chuỗi thay vì nghiên cứu đơn lẻ, trên toàn bộ từ khâu giống, quy trình canh tác, tới sơ chế, chế biến, tiêu thụ, trên cơ sở hợp tác, phối hợp đồng bộ giữa các đơn vị trong VAAS.

Đồng thời, việc nghiên cứu cần hết sức lưu ý tới tính đặc hữu, sản phẩm cây trồng đặc sản của nước ta theo hướng ít sản phẩm nhưng cao về giá trị.

Theo đó, VAAS cần chủ động tiếp cận nhu cầu, thị hiếu thị trường nhằm có định hướng nghiên cứu, đi tắt đón đầu các giống, sản phẩm cây trồng có xu hướng, nhu cầu, giá trị cao trên thị trường.

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường cho biết sẽ ưu tiên tối đa vốn đầu tư trung hạn, đồng thời phối hợp với Bộ KH-CN nhằm tạo điều kiện tối đa nguồn lực cho VAAS trong giai đoạn tới… 

Nguồn bài viết